Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

Nữ Hoàng Ayesha trở lại - Chương 6



Chương 6: Trong Cánh Cổng

Ôi! Phi người vào không trung nào! Cú rơi thế này dân gian cho là phải mất ý thức, nhưng tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng điều này không đúng. Chưa bao giờ đầu óc và nhận thức của tôi lại sống động hơn lúc đi từ sông băng vỡ xuống đất, chưa bao giờ một hành trình ngắn ngủi lại mất thời gian nhiều hơn thế. Tôi thấy trên sàn trắng, một cái gì đó còn sống, nhảy lên xuyên qua không gian trống trải để gặp tôi, rồi sau đó – hết!
Đụng rồi! Tại sao, chuyện gì thế này? Tôi vẫn còn sống. Tôi ở trong nước, vì tôi có thể cảm thấy sự lạnh lẽo của nó, và đi xuống, đi xuống, tới khi tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ nhô lên được nữa. Nhưng tôi đã nhô lên, dù phổi của tôi đã sắp nổ tung. Khi nổi lên trên mặt, tôi nhớ vụ va đụng, nó nói cho tôi biết mình vừa đi xuyên qua băng. Thế nên tôi lại chạm vào bề mặt băng lần nữa. Ôi! Cứ nghĩ rằng sau khi đã sống sót quá nhiều, tôi cần phải chết đuối như con mèo dưới tảng băng. Bàn tay tôi chạm vào nó. Nơi đó phía trên tôi, màu trắng tỏa sáng như gương. Thượng Đế phù hộ! Đầu tôi xuyên qua; trong cái hẻm trú thấp tè này, đúng là một màng phim không dày quá một xu tạo bởi sương giá lóng lánh đêm hôm trước. Tôi nhô lên khỏi chỗ sâu và bắt đầu nhìn vào chính mình, vẫn còn đang ngâm chân trong nước.
Rồi tôi nhìn thấy cảnh tượng vui nhất mắt mình từng thu được, bên phải, không quá mười thước, nước đang rỏ xuống từ râu tóc, là Leo. Leo còn sống, cậu phá vỡ lớp băng mỏng bằng tay như vừa vật lộn thoát khỏi con sông sâu hun hút này để lên được bờ.2 Cậu ấy cũng nhìn thấy tôi, đôi mắt xám của cậu như bắt đầu rời khỏi đầu.
2 Thông thường, như chúng tôi sau đó hiểu ra, ở chỗ này con sông rất nông; chỉ sâu một hai feet. Chính vụ lở tuyết đã cải tạo lại nó bằng hàng đống tuyết rơi xuống làm nó dâng thêm rất nhiều feet. Vì thế chính nhờ vụ lở tuyết từng suýt chôn vùi chúng tôi, chúng tôi đã thực sự cứu được mạng mình, vì nếu nó vẫn chỉ ở độ sâu như bình thường, chúng tôi đã bị nát thành từng mảnh khi đụng vào hàng đống đá tảng. – L.H.H.
“Vẫn sống, cả hai ta, và đã qua được vách đá rồi!” cậu thét lên một tiếng hoan hỉ như chuông ngân. “Cháu đã nói với bác rồi, chúng ta đang được chỉ dẫn.”
“Được rồi, nhưng đi đâu đây?” tôi trả lời khi đang chiến đấu theo cách của mình trước mảnh băng.
Rồi tôi nhận ra chúng tôi không đơn độc nữa, vì trên bờ sông, cách chúng tôi khoảng ba mươi thước, hai thân ảnh đang đứng, một người đàn ông chống cây gậy dài và một phụ nữ. Ông ta là một người rất già, vì mắt đã chai lại có sừng, tóc trắng như tuyết, râu treo lủng lẳng trước vai và ngực cong cong, những đường nét mỉa mai đầy nếp nhăn đều vàng như sáp. Họ như đang đeo mặt nạ người chết được cắt bằng đá cẩm thạch. Đứng nơi đó, mặc chiếc áo choàng lụng thụng của thầy tu, dựa người trên cây gậy, ông ta vẫn đứng im như tượng và quan sát chúng tôi. Tôi đã ghi nhớ toàn bộ, từng chi tiết, dù lúc đó tôi không biết mình đang làm vậy, khi chúng tôi phá đường xuyên qua lớp băng hướng về họ, sau đó toàn bộ bức tranh đã được tôi tái hiện. Tôi cũng nhìn thấy người phụ nữ, rất cao lớn, đang chỉ vào chúng tôi.
Càng gần bờ sông, đúng hơn là gần kè đá của con sông, bề mặt càng ít băng, vì ở đó dòng chảy rất nhanh. Thấy vậy, chúng tôi lại gần nhau và bơi cạnh nhau để giúp nhau nếu cần. Điều đó rất cần thiết, vì ở rìa dòng nước xiết, sức lực phục vụ tôi bao lâu nay dường như rời bỏ tôi, và tôi trở nên vô dụng; bị tê cóng trong nước lạnh buốt giá. Quả thật, nếu không có Leo túm lấy quần áo tôi, tôi nghĩ mình đã bị cuốn đi theo dòng nước tới chỗ chết. Hỗ trợ tôi được một lúc, cậu ấy bảo – “Cháu đang đi theo. Hãy giữ lấy đầu sợi dây.”
Thế là tôi nắm chặt lấy dải da của con bò đang trôi nhanh về phía cậu ấy, tay cậu được giải thoát, Leo thực hiện một nỗ lực tuyệt vời cuối cùng để giữ được cả hai chúng tôi khỏi bị hút xuống dưới, vì chúng tôi đang bị cản trở bởi đống quần áo dày ngâm nước như khối chì kéo chúng tôi xuống dưới. Hơn thế, cậu thực hiện thành công ở nơi đến cả vận động viên bơi lội yếu hơn cũng phải thất bại. Tôi vẫn tin chúng tôi sắp chết đuối, vì ở chỗ này nước chảy như máy xay đang chạy đua, nếu không có người đàn ông trên bờ, nhìn thấy hoàn cảnh của chúng tôi nên giục giã người phụ nữ, rồi chạy tới với tốc độ đáng kinh ngạc ở tuổi đó, từ một chỗ trên hòn đá cách dòng nước vài thước, khi chúng tôi bị cuốn qua đó, ông ta ngồi xuống, giơ cây gậy dài về phía chúng tôi.
Trong nỗ lực tuyệt vọng, Leo bám lấy nó khi chúng tôi đi qua, lăn qua lăn lại cùng nhau, và giữ được. Chúng tôi đánh đu vòng tròn trong xoáy nước, thấy bàn chân bị đập xuống, cọ xát và va vào đá. Nhưng vẫn bám chặt cây gậy cứu rỗi, đầu kia của nó được ông già nắm lấy như ốc bám vào đá, trong khi người phụ nữ bám lấy ông ấy, chúng tôi hồi phục, một phần nhờ tảng đá che chở, loạng choạng bơi về phía bờ. Nằm dài ra – vì chúng tôi vẫn trong tình cảnh rất nguy hiểm – người đàn ông đưa một cánh tay ra. Chúng tôi không thể bắt được; tệ hơn, cây gậy bỗng nhiên rời khỏi ông ta; chúng tôi bị cuốn trôi đi.
Sau đó, chính người phụ nữ đã làm một việc cao quí, nhảy vào trong nước – đúng, nước lên tới nách cô ta – giữ chặt lấy ông già bằng tay trái, còn tay phải cô ta giữ tóc Leo và kéo cậu ấy lại phía bờ. Giờ cậu đã nhìn thấy chân mình, đưa một tay đặt lên thân hình thanh mảnh kia, tự ổn định lại chính mình, còn tay kia cậu hỗ trợ tôi. Kế tiếp là cuộc vật lộn loạn xạ khá lâu, nhưng cuối cùng, cả ba chúng tôi, ông già, Leo và tôi, cuộn thành một đống trên bờ và nằm đó thở hổn hển.
Giờ tôi nhìn lên. Người phụ nữ đứng trước chúng tôi, nước chảy sũng trên quần áo, nhìn chằm chằm vào gương mặt của Leo như kẻ đang mơ màng, ngột ngạt khi máu chảy ra từ vết cắt sâu trên đầu cậu ấy. Thậm chí sau đó tôi thấy cô ấy thật trang nghiêm và xinh đẹp. Giờ cô dường như đã thức tỉnh, liếc nhanh chiếc áo choàng đang bám trên thân hình quyến rũ của mình, nói gì đó với người đi cùng, rồi quay đi chạy về hướng vách đá.
Chúng tôi nằm trước mặt, hoàn toàn kiệt sức, ông già đã đứng dậy, lặng ngắm chúng tôi nghiêm nghị bằng đôi mắt lờ mờ. Ông ta nói, nhưng chúng tôi không hiểu. Ông ấy lại thử một ngôn ngữ khác nhưng không thành công. Lần thứ ba, tai chúng tôi mở ra, vì ngôn ngữ ông ta dùng là tiếng Hy Lạp; phải, ở đây, tại Trung Á, ông ây đã nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Hy Lạp, không quá thuần, nhưng thực sự vẫn là tiếng Hy Lạp.
“Các ngươi là phù thủy hay sao,” ông ấy nói, “mà vẫn sống sót khi tới được mảnh đất này?”
“Không,” tôi trả lời với cùng ngôn ngữ, dù sai vài từ - vì tôi nghĩ rất ít về tiếng Hy Lạp suốt nhiều năm qua – “vì nếu thế, chúng tôi đã đi tới nơi khác rồi,” và tôi chỉ vào những vết thương cùng vách đá phía sau chúng tôi.
“Họ biết những lời nói cổ xưa, giống như chúng ta được nghe kể từ Ngọn Núi,” ông ta lẩm bẩm một mình. Sau đó ông ta hỏi – “Người lạ, các ngươi tìm gì?”
Bây giờ tôi trở nên khôn khéo hơn và không trả lời, vì sợ rằng nếu biết sự thật, ông ta có thể ném chúng tôi trở lại dòng sông. Nhưng Leo không thận trọng như vậy, hay đúng hơn mọi lý do đều bỏ đi xa cậu ấy; cậu đã mê sảng.
“Chúng tôi đang tìm kiếm,” cậu lắp bắp – tiếng Hy Lạp của cậu từng luôn luôn kém, giờ đơn giản không phải là Hy Lạp mà trộn với nhiều thổ ngữ Tây Tạng khác – “chúng tôi tìm vùng đất có Ngọn Núi Lửa ở trên đỉnh có Biểu Tượng của Sự Sống.”
Người đàn ông nhìn chúng tôi chằm chằm. “Các ngươi đã biết đến vậy cơ à,” ông ta nói, sau đó dừng lại và thêm vào, “thế các ngươi tìm ai?”
“Nàng,” Leo điên cuồng trả lời, “Nữ Hoàng”. Tôi nghĩ cậu ấy muốn nói tới vị nữ tu sĩ, hay nữ thần, nhưng chỉ có thể nghĩ ra bằng tiếng Hy Lạp từ ‘Nữ Hoàng’, hay từ gì đó tương tự. Hoặc có lẽ vì người phụ nữ đã qua đời kia giống như một nữ hoàng.
“Ôi!” người đàn ông nói, “các ngươi tìm một nữ hoàng – thế thì các ngươi là những người chúng ta được lệnh khám xét. Không, làm sao ta có thể chắc chắn được?”
“Lúc này còn đặt câu hỏi sao?” tôi thở hổn hển nói một cách giận dữ. “Hãy trả lời tôi một câu thôi: ông là ai?”
“Ta ư? Người lạ, chức danh của ta là Người Bảo Vệ Cánh Cổng, còn người phụ nữ đi cùng ta là Khania của Kaloon.”
Đúng lúc đó, Leo bắt đầu ngất xỉu.
“Người đàn ông này đang ốm,” Người Bảo Vệ nói, “giờ ngươi phải thở lại, ngươi phải tìm chỗ cư ngụ, cả hai người các ngươi, ngay bây giờ. Đi thôi, hãy giúp ta.”
Cứ thế, đỡ Leo một bên, chúng tôi kéo nhau ra khỏi vách đá đáng nguyền rủa và con sông như Sông Mê kia, đi lên một hẻm núi hẹp, quanh co. Hiện tại nó mở rộng ra ở chỗ này, trải dài theo rừng thưa, chúng tôi thấy Cánh Cổng. Tôi quan sát nó, trong ký ức, những chi tiết về cảnh này và đoạn đối thoại trôi qua rất nhạt nhẽo và lờ mờ, nó như bức tường đá hùng vĩ trong đó có một lối đi được đào xuyên qua con đường. Một bên lối đi là cầu thang, nơi chúng tôi bắt đầu bước lên một cách khó nhọc, vì Leo giờ gần như vô tri và hầu như chân không nhúc nhích. Quả thật, ngay tại đầu cầu thang, cậu ấy đã sụp xuống thành một đống, sức chúng tôi không đủ để nâng cậu dậy.
Trong khi tôi yếu ớt tự hỏi chuyện gì sắp tới đây, tôi nghe thấy những tiếng bước chân, và nhìn lên, thấy người phụ nữ vừa cứu cậu ấy đang đi xuống cầu thang, theo sau cô ấy có hai người đàn ông khoác áo choàng mang sắc thái gương mặt của người Tartar, rất bình thản; mắt nhỏ và da vàng. Ngay cả khi thấy chúng tôi, họ cũng không hề xuất hiện vẻ kinh ngạc. Cô ấy nói vài lời với họ, rồi họ nâng thân hình nặng nề của Leo lên, khá dễ dàng, và mang cậu ấy lên cầu thang.
Chúng tôi đi theo, tới căn phòng có lẽ được đào từ tảng đá phía trên cửa ngõ, nơi đó người phụ nữ gọi là Khania để chúng tôi lại. Từ đó, chúng tôi đi xuyên qua những căn phòng khác, một trong số chúng giống một dạng nhà bếp, nơi đó đốt lửa, rồi chúng tôi tới một buồng rộng, rõ ràng một nơi để ngủ, vì trong đó có các khung giường gỗ, nệm và chăn. Leo được đặt nằm xuống đó, với sự trợ giúp của một người hầu, Người Bảo Vệ già cởi quần áo cho cậu ấy, đồng thời ra hiệu cho tôi cởi quần áo của chính mình. Lúc này tôi khá vui vẻ làm như thế lần đầu tiên trong nhiều ngày qua, dù vô cùng đau đớn và khó nhọc, phát hiện ra tôi có hàng đống vết thương và bầm dập.
Vị chủ nhà thổi một cái còi, người phục vụ khác xuất hiện mang một thùng nước nóng, nhờ đó chúng tôi được tắm rửa sạch sẽ. Sau đó Người Bảo Vệ bôi lên những chỗ đau của chúng tôi một loại thuốc mỡ mềm mại, và đắp chăn cho chúng tôi. Sau đó nước dùng được mang tới, ông ấy trộn ít dược, rồi đưa cho tôi uống một phần khi đang nằm trên giường, ông ta nâng đầu Leo trên đầu gối và rót phần còn lại xuống cổ họng cậu. Ngay lập tức sự ấp áp tuyệt vời chạy qua tôi, bộ não đau nhức của tôi bắt đầu bơi lội. Sau đó tôi không còn nhớ được gì nữa.
Những ngày kế tiếp, chúng tôi rất ốm yếu. Đó có lẽ là một loại dược gây ốm đau, tôi không biết, nhưng hậu quả của nó kế tiếp là mất máu, cực kỳ suy kiệt cơ thể, sốc tê liệt cả thần kinh, những vết cắt sâu và những chỗ giập nát. Chúng cùng xảy đến, tạo ra một giai đoạn dài nửa tỉnh nửa mê, sau đó đến giai đoạn sốt và mê sảng. Tất cả những gì tôi có thể hồi tưởng về vài tuần làm khách của Người Bảo Vệ Cánh Cổng, có lẽ được tổng kết trong một từ - ‘mơ’, cho đến khi tôi phục hồi lại các giác quan.
Các giấc mơ bản thân chúng đều bị lãng quên, có lẽ thế lại tốt, vì chúng rất lộn xộn, và hầu hết đều khủng khiếp; một mớ hổ lốn những cơn ác mộng, chắc chắn phản ánh ký ức sống động về những đau khổ đáng sợ gần đây của chúng tôi. Đôi lúc tôi cũng thức tỉnh thoát khỏi chúng một chút, tôi cho rằng thức ăn đã được chuẩn bị cho mình, và cảm thấy ấn tượng về bất kỳ thứ gì đi qua nơi này. Thế nên tôi có thể hồi tưởng lại cảnh Người Bảo Vệ già nua có gương mặt vàng vọt đứng trước tôi như bóng ma dưới ánh trăng, vuốt bộ râu dài của ông ta, đôi mắt dán lên mặt tôi, như thể ông ta muốn tìm ra bí mật từ tâm hồn tôi.
“Họ là loài người,” ông ta tự lẩm bẩm, “không nghi ngờ gì nữa, họ là loài người,” rồi đi về phía cửa sổ, nhìn lên cao rất lâu và nghiêm túc, như người đang nghiên cứu về các vì sao.
Sau đó tôi nhớ có cảnh lộn xộn trong phòng, và chế ngự nó là âm thanh phong phú từ giọng nói của một phụ nữ cùng tiếng sột soạt của tơ lụa phụ nữ quét trên sàn đá. Tôi mở mắt và thấy chính là người đã giúp cứu sống chúng tôi, thực tế đã cứu chúng tôi, một phụ nữ cao ráo và quí phái với gương mắt đẹp đẽ mỏi mệt, đôi mắt trong sáng như thiêu đốt. Từ chiếc áo choàng nặng nề cô ấy khoác, tôi nghĩ chắc cô vừa quay về từ một chuyến đi.
Cô ấy đứng trước mặt tôi và nhìn tôi, rồi quay đi với một cử chỉ thờ ơ, nếu không muốn nói là ghê tởm, và nói chuyện với Người Bảo Vệ bằng giọng trầm thấp. Ông ta trả lời bằng cách cúi đầu, chỉ vào chiếc giường khác nơi Leo nằm ngủ, rồi cô ấy đi tới đó một cách chậm rãi và hống hách. Tôi thấy cô ấy cúi xuống, nâng góc chăn phủ trên đầu đầy thương tích của cậu ấy, rồi nghe thấy cô thốt ra những lời bao dung trước khi quay lại bên Người Bảo Vệ như thể muốn hỏi ông ấy thêm nữa.
Nhưng ông ta đã một mình bỏ đi, còn cô nghĩ tôi vô dụng, kéo chiếc ghế đẩu thô kệch tới cạnh giường, ngồi nghiên cứu Leo giờ đang nằm đó, bằng vẻ nghiêm túc thật đáng sợ, vì tâm trí cô dường như tập trung hết vào đôi mắt, mọi biểu cảm đều tìm thấy ở đó. Cô ta nhìn chăm chú rất lâu, rồi đứng dậy và bắt đầu bước nhanh qua lại trong căn phòng, ấn tay vào lòng rồi lại lên trán, một vẻ đam mê nhất định in dấu trên khuôn mặt cô khá lúng túng, như thể cô đang vật lộn để cố nhớ ra cái gì đó mà không thể.
“Ở đâu và khi nào nhỉ?” cô thì thầm. “Ôi! Ở đâu và khi nào chứ?”
Tôi không biết đoạn kết của cảnh đó, vì dù tôi khó nhọc đấu tranh trước nó, sự quên lãng vẫn làm chủ tôi. Sau sự việc đó, tôi bắt đầu nhận ra người phụ nữ vương giả tên là Khania kia luôn luôn ở trong phòng, cô ấy dường như đang chăm sóc cho Leo rất chu đáo và dịu dàng. Đôi khi cô thậm chí chăm sóc cả tôi khi Leo không cần chú ý và cô không có việc gì khác để làm, hoặc phong cách của cô chính là như vậy. Tôi như thể bị kích thích trước vẻ hiếu kỳ của cô ấy, còn cô mong tôi phục hồi tốt đẹp.
Tôi lại tỉnh dậy, tôi không thể nói được đã qua bao lâu rồi. Trời đang tối, căn phòng chỉ được ánh trăng chiếu sáng, giờ trăng đang tỏa sáng trên bầu trời quang đãng. Ánh sáng điềm tĩnh đi vào qua khung cửa sổ, rơi lên giường của Leo, nhờ đó tôi nhìn thấy người phụ nữ uy nghi trong bóng tối đang quan sát cậu ấy từ một bên. Vài cảm xúc về sự hiện diện của cô có lẽ tự thân truyền tới cậu, vì cậu bắt đầu lẩm bẩm trong giấc ngủ, lúc bằng tiếng Anh, lúc bằng tiếng Ả Rập. Cô ấy bắt đầu quan tâm hết mực; mỗi động tác của cô đều nói lên điều đó. Sau đó đột ngột đứng dậy, cô kiễng chân lướt trong phòng để xem tôi. Thấy cô ấy đến, tôi giả vờ ngủ, tất nhiên cô ấy đã bị đánh lừa.
Vì tôi cũng rất quan tâm. Người phụ nữ mà Người Bảo Vệ gọi là Khania của Kaloon này là ai? Đó có phải người chúng tôi tìm kiếm không? Tại sao lại không chứ? Nếu tôi gặp Ayesha, chắc chắn tôi nên được biết đó là bà ấy, chắc chăn ở đây không còn phòng nữa.
Cô ấy quay lại giường, quỳ gối cạnh Leo, theo đó là sự im lặng căng thẳng – vì cậu đã ngừng lẩm bẩm – tôi nghĩ mình có thể nghe thấy tiếng tim đập của cô ấy. Giờ cô ấy bắt đầu nói chuyện, rất chậm rãi trong thứ ngôn ngữ Hy Lạp lai tạp, trộn lẫn đây đó những từ ngữ Mông Cổ giống như các phương ngữ Trung Á khác. Tôi không thể nghe hay hiểu hết tất cả những gì cô ấy nói, nhưng vài câu tôi hiểu được, và chúng làm tôi khiếp sợ không ít.
“Người đàn ông trong mơ của ta,” cô thì thầm, “chàng đến từ đâu? Chàng là ai? Tại sao Hesea lại ra lệnh cho ta gặp chàng?” Rồi vài câu sau tôi không thể nghe rõ. “Chàng đang ngủ; trong giấc ngủ đôi mắt vẫn mở. Hãy trả lời ta, ta ra lệnh cho chàng đó; hãy nói quan hệ giữa chàng và ta là thế nào? Tại sao ta lại mơ thấy chàng? Tại sao ta biết chàng? Tại sao - ?” và giọng nói ngọt ngào phong phú đó nhỏ dần từ lời thì thầm chuyển thành im lặng, như thể cô đang xấu hổ khi thốt những lời đó ra trên đầu lưỡi.
Khi cô cúi xuống chỗ cậu ấy, lọn tóc lỏng rơi ra khỏi dải lụa nạm ngọc và phủ xuống mặt cậu. Lúc nó chạm vào, dường như Leo đã bị đánh thức, vì cậu ấy nâng bàn tay trắng hốc hác chạm vào mái tóc, rồi nói bằng tiếng Anh – “Mình đang ở đâu thế? Ồ! Mình nhớ ra rồi,” và đôi mắt họ gặp nhau khi cậu cố tự nâng mình dậy nhưng không thể. Rồi cậu nói lại bằng tiếng Hy Lạp lộn xộn và ngại ngùng, “Nàng là người phụ nữ đã cứu ta khỏi dòng nước. Nói đi, nàng cũng chính là nữ hoàng ta đã tìm kiếm rất lâu và chịu đựng vô vàn gian khổ để đi tìm đúng không?”
“Ta không biết,” cô ấy trả lời bằng giọng ngọt như mật, trầm thấp, run rẩy; “nhưng quả thật ta là một nữ hoàng – nếu Khania là một nữ hoàng.”
“Thế thì hãy nói đi, Nữ Hoàng, nàng có nhớ ta không?”
“Chúng ta đã gặp nhau trong những giấc mơ,” cô trả lời, “ta nghĩ chúng ta đã gặp nhau trong một quá khứ rất xa xôi nào đó. Phải; ta biết điều đó khi lần đầu tiên nhìn thấy chàng bên bờ sông. Một người lạ với gương mặt ta đã khắc ghi từ lâu, hãy nói cho ta, ta cầu xin chàng, tên chàng là gì?”
“Leo Vincey.”
Cô ấy lắc đầu thì thầm – “Ta không biết cái tên này, nhưng ta biết chàng.”
“Nàng biết ta! Làm sao nàng biết ta?” cậu nặng nề nói, dường như lại chìm vào giấc ngủ hay bất tỉnh.
Cô ấy chăm chú quan sát cậu ấy một lúc. Sau đó như thể một sức mạnh không thể cưỡng lại lôi kéo, tôi thấy cô cúi đầu xuống gương mặt đang ngủ của cậu ấy. Đúng; tôi thấy cô hôn môi cậu rất nhanh, sau đó ửng đỏ tới tận tóc, như thể ngập tràn xấu hổ trước chiến thắng của nỗi khao khát điên cuồng.
Bây giờ cô ấy đã phát hiện ra tôi.
Hoang mang, cuốn hút, ngạc nhiên, tôi tự ngồi dậy trên giường, không biết gì; tôi cho rằng có lẽ mình sẽ nhìn và nghe thấy điều tốt đẹp hơn. Thật sai lầm, chắc chắn rồi, nhưng nói chung không có sự tò mò nào làm chủ tôi thái quá, thứ đó có nhiều lợi ích từ tôi trong toàn bộ chuyện này. Hơn thế, nó thật điên cuồng nhưng bệnh hoạn, và sự băn khoăn đã giết chết lý trí của tôi.
Đúng, cô ấy thấy tôi đang nhìn hai người họ, cơn giận dữ bùng lên trong cô khiến tôi nghĩ giờ phút của mình đã tới.
“Người đàn ông kia, ngươi dám sao - ?” cô ấy nói trong tiếng thì thầm căng thẳng, chộp lấy đai lưng. Giờ trong tay cô lóe sáng một con dao, và tôi biết mình phải phó thác cho số mệnh. Sau đó, trong tình cảnh hiểm nguy đau lòng này, trí khôn đã trở lại với tôi, khi cô ấy tiến tới, tôi giơ bàn tay run rẩy ra và nói – “Ôi! Hãy rủ lòng thương, cho tôi uống. Cơn sốt đang thiêu đốt tôi, nó thiêu đốt tôi,” rồi tôi nhìn quanh như kẻ đang hoang mang vì không thấy gì, và lặp lại, “Hãy cho tôi uống, xin ông đấy, Người Bảo Vệ,” rồi tôi ngã ra sau vì kiệt sức.
Cô ấy dừng lại như con diều hâu vừa sà xuống, nhanh chóng bọc lại con dao găm. Sau đó lấy một bát sữa trên bàn gần mình, cô đổ nó vào miệng tôi, dò xét trên gương mặt tôi một lúc bằng đôi mắt rực lửa, vì quả thật, niềm đam mê, cơn giận dữ và nỗi sợ hãi đã đốt chúng rực cháy. Tôi uống sữa từng ngụm lớn, dù chưa bao giờ trong đời tôi thấy nó khó nuốt đến vậy.
“Ngươi đang run rẩy,” cô ấy nói; “có phải những giấc mơ đã ám ảnh ngươi không?”
“Đúng, anh bạn ạ,” tôi trả lời, “những giấc mơ về vách núi ghê sợ đó và cú nhảy cuối cùng.”
“Còn gì nữa?” cô ấy hỏi.
“Không, chưa đủ sao? Ồ! Cả hành trình làm bạn với một nữ hoàng.”
“Làm bạn với một nữ hoàng,” cô bối rối lặp lại. “Người này nói thế nghĩa là sao? Ngươi hãy thề ngươi không còn giấc mơ nào khác chứ?”
“Được, tôi thề với Biểu Tượng của Sự Sống và Ngọn Núi có Lửa Uốn Lượn, và thề với người, Nữ Hoàng O thời viễn cổ.”
Sau đó tôi thở dài và giả vờ ngất đi, vì tôi không thể nghĩ ra cái gì để làm nữa. Khi nhắm mắt, tôi thấy gương mặt cô ấy lúc trước đỏ như bình minh đã chuyển sang tái nhợt như đêm trước, vì những lời vừa rồi và tất cả những gì ẩn dấu phía sau vừa tuôn ra. Hơn thế nữa, cô ấy vẫn đang hoài nghi, vì tôi có thể nghe được tiếng cô đang lần sờ con dao găm. Sau đó cô ấy nói to vài lời vào tai tôi nếu tôi vẫn có thể nghe được.
“Ta rất vui,” cô ấy nói, “vì ngươi không còn giấc mơ nào khác, vì nếu ngươi mơ thấy vậy và nói ra chúng, đó sẽ là một điềm xấu, ta không muốn ai từ xa tới thăm chúng ta lại bị mai táng bằng cách bị ném tới chết như lũ chó; hơn nữa lại là kẻ già nua và xấu xí, nhưng vẫn có vẻ thông thái và yên tĩnh thế này.”
Giờ trong lúc tôi đang rùng mình trước những ẩn ý khó chịu kia – dù “chết như lũ chó” có lẽ là người bị chôn, nhưng tôi vẫn không thể tưởng tượng nổi – tôi vui sướng vô cùng khi nghe thấy tiếng bước chân của Người Bảo Vệ trên các bậc cầu thang, cũng nghe thấy ông ta đang bước vào trong phòng rồi nhìn thấy ông cúi chào trước người phụ nữ.
“Những người đàn ông ốm yếu này sẽ đi như thế nào đây, cháu gái?” 3 ông ta nói bằng giọng lạnh nhạt.
3 Sau đó tôi biết Khania, Atene không phải là cháu gái của Simbri mà là con gái của cháu họ ông, bên đằng ngoại. – L.H.H.
“Họ ngất rồi, cả hai người,” cô ấy trả lời.
“Thật thế sao? Ta nghĩ ngược lại. Ta nghĩ họ đã tỉnh.”
“Người không nghe thấy gì sao, Pháp Sư (một kiểu phù thủy)?” cô ấy tức giận hỏi.
“Ta ư? Ôi! Ta đã nghe thấy tiếng rít của con dao găm trong vỏ và tiếng sủa từ xa của bầy chó tử thần.”
“Và đó là những gì người đã nhìn thấy, phải không Pháp Sư?” cô ấy hỏi lại, “khi nhìn xuyên qua Cánh Cổng người đang bảo vệ?”
“Khung cảnh thật kỳ lạ, Khania, cháu gái của ta. Nhưng – những người đàn ông đã tỉnh lại sau những trận ngất xỉu.”
“Được rồi,” cô ấy trả lời, “thế thì trong lúc người này ngủ, hãy mang anh ta sang phòng khác, vì anh ta cần thay đổi, và vị chúa tể đằng kia cần nhiều không gian và bầu không khí không bị ô uế.”
Người Bảo Vệ, được cô ấy gọi là “Pháp Sư” hay Thầy Phù Thủy, cầm một cây đèn trên tay, dưới ánh sáng, rất dễ nhìn ra gương mặt ông ấy, tôi đã quan sát qua khóe mắt mình. Tôi nghĩ nó mang một biểu cảm rất kỳ lạ, hơn nữa nó như cảnh báo tôi một điều gì đó. Ngay từ đầu tôi đã băn khoăn về ông già này, người mang nét mặt hận thù; tôi e sợ ông ta.
“Tới phòng nào, Khania?” ông ta hỏi đầy hàm ý.
“Cháu nghĩ,” cô ấy chậm rãi trả lời, “tới một căn phòng lành mạnh, để anh ta phục hồi. Người đàn ông này rất thông thái,” cô nói thêm như thể giải thích, “hơn nữa, theo lời từ Ngọn Núi, làm hại anh ta có thể sẽ gặp nguy hiểm. Nhưng tại sao người lại hỏi thế?”
Ông ta nhún vai.
“Ta nói cho cháu, ta đã nghe bầy chó tử thần sủa, thế thôi. Đúng, ta nghĩ với cháu anh ta rất thông thái, con ong tìm mật nên hút hoa – trước khi hoa héo tàn! Cũng thế thôi, như cháu nói đấy, có những mệnh lệnh thật đau đớn nếu coi nhẹ, thậm chí ngay cả khi chúng ta không thể đoán ra ý nghĩa của nó.”
Sau đó ông ta đi ra cửa thổi còi, ngay lập tức tôi nghe thấy những tiếng chân của đám người hầu trên cầu thang. Ông ta ra lệnh cho họ, và họ nhẹ nhàng nâng cái đệm tôi đang nằm trên đó rồi đi theo ông ấy xuống những lối đi nhỏ, qua vài cầu thang tới một buồng khác hình dạng giống như căn phòng chúng tôi vừa rời đi, nhưng không lớn bằng, và họ đặt tôi lên một chiếc giường ở đó.
Người Bảo Vệ quan sát tôi một lúc và thấy tôi vẫn không tỉnh dậy. Kế tiếp ông ta giơ tay ra và cảm nhận nhịp tim tôi; kết quả kiểm tra dường như làm ông ta lúng túng, vì ông ta thốt lên một câu cảm thán nhỏ và lắc đầu. Sau đó ông ta rời phòng, tôi nghe thấy ông ta kéo cánh cửa phía sau. Rồi vẫn còn rất yếu, tôi thiếp đi một cách nghiêm chỉnh.
Khi tôi tỉnh dậy, ánh sáng ban ngày đã trải rộng. Tâm trí tôi thanh tỉnh và tôi cảm thấy khỏe hơn nhiều ngày qua, dấu hiệu cho tôi biết cơn sốt đã rời đi và tôi đang trong giai đoạn hồi phục. Giờ tôi đã nhớ ra tất cả các sự kiện đêm trước và có thể cân nhắc chúng một cách cẩn thận. Chuyện này chắc chắn có nhiều lý do, tôi biết tôi đã và vẫn đang trong tình cảnh vô cùng nguy hiểm.
Tôi đã nhìn và nghe được rất nhiều, người phụ nữ gọi là Khania kia cũng đoán ra tôi đã nhìn và nghe thấy. Quả thực, nếu không vì tôi ám chỉ tới Biểu Tượng của Sự Sống và Ngọn Núi có Ánh Lửa, sau đó tôi đã làm cơn phẫn nộ của cô ta nguôi ngoai bằng mưu mẹo, nếu không tôi cảm thấy chắc chắn cô ta sẽ ra lệnh cho Người Bảo Vệ hay vị Pháp Sư già nua kia làm cho tôi chết bằng cách này hay cách khác; và chắc chắn ông ta cũng không hề do dự tuân theo. Tôi đã được tha một phần vì nguyên nhân vô danh nào đó, cô ta e sợ việc giết tôi, và phần nữa vì cô ta có lẽ muốn tìm hiểu tôi biết nhiều bao nhiêu, dù “bầy chó tử thần đã sủa”, nó có thể mang bất cứ ý nghĩa nào. Phải, tới giờ tôi vẫn an toàn, nhưng sau này tôi phải nắm lấy cơ hội của mình. Hơn nữa cần phải thận trọng, và nếu cần, phải giả vờ không biết gì. Vì thế, xua đuổi vấn đề định mệnh của chính mình ra khỏi đầu óc, tôi cảm thấy nên xem xét cảnh tượng tôi đã chứng kiến và ngụ ý chủa nó là gì.
Cuộc phiêu lưu của chúng tôi đã tới hồi kết chưa? Người phụ nữ kia là Ayesha ư? Leo đã mơ thấy thế, nhưng cậu vẫn đang mê sảng, do đó ở đây chỉ dựa vào một chút thôi. Điểm chính là cô ấy tự cho rằng có tồn tại mối quan hệ nào đó giữa cô ấy và người đàn ông đang ốm nặng này. Tại sao cô ấy ôm cậu? Tôi chắc rằng cô ta có thể không phải người bừa bãi, thực sự không phải bất kỳ phụ nữ nào cũng muốn tư lợi theo cách điên rồ như vậy với một người lạ đang lơ lửng giữa sống và chết. Thứ khiến cô ấy làm vậy có thể là rung động không thể cưỡng lại được, tri thức hay ít ra là những hồi ức hồi sinh, đã điều khiển cô ấy, dù tri thức đó có thể không hoàn hảo và hồi ức đó không xác định được. Ai cứu Ayesha đều có thể biết gì đó về Leo trong quá khứ chứ? Không ai như vậy có thể còn sống trên đời đến tận giờ.
Nhưng tại sao không chứ, nếu những gì sư trụ trì Kou-en và hàng chục triệu tín đồ theo trường phái của ông tin đó là thật? Nếu những linh hồn của con người thực sự bị giới hạn chặt chẽ trong một con số, và trở thành kẻ chiếm giữ một chuỗi vô tận các thân xác bị thay đổi theo thời gian như chúng ta thay đổi quần áo, thế thì tại sao lại không có ai khác nữa biết về cậu ấy chứ? Chẳng hạn con gái của các Pharaoh, người “khiến ông vì tình yêu phá vỡ lời thề đã tuyên thệ” biết một Kallikrates, vị linh mục của “thần Isis - người được các vị thần yêu mến và quỉ dữ vâng lời;” thậm chí gồm cả Amenartas, người phụ nữ am hiểu phép thuật.
Ôi! Giờ một tia sáng dường như muốn phá nát tâm trí tôi, tia sáng hoàn hảo. Chuyện gì xảy ra nếu Amenartas và Khania, người phụ nữ có phong thái hoàng tộc trên từng đường nét này, là một? Có phải “phép thuật của dân tộc mình mà ta đang sở hữu” – như những gì cô ấy đã viết trên Mảnh Gốm Cổ - cho phép cô xuyên qua bóng tối của Quá Khứ để nhận ra vị linh mục bị cô bỏ bùa để yêu cô, giật ông khỏi bàn tay của vị nữ thần đó chứ? Chuyện gì đây nếu đó không phải là Ayesha, mà là hóa thân của Amenartas, người đang thống trị vùng đất bí ẩn này, và một lần nữa lại tìm cách làm người đàn ông cô yêu phá vỡ lời thề? Nếu vậy, quỉ dữ chắc chắn sẽ đến, tôi thậm chí đã thấy bóng của nó. Sự thật phải được phơi bày, nhưng bằng cách nào đây?
Trong khi tôi mải đắn đo thì cửa mở ra, người đàn ông có vẻ mặt già nua, mỉa mai, không dò xét nổi được Khania gọi là Thầy Phù Thủy, và gọi Khania là cháu gái kia, bước vào và đứng trước mặt tôi.

Tác phẩm gốc: Ayesha - Return of SHE (H.R. Haggard)
           Dịch bởi: Cheryl Pham

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

Nữ Hoàng Ayesha trở lại - Chương 5



Chương 5: Sông băng

Cuối cùng ngày hôm đó cũng kết thúc, sau vài miếng thịt bò, do cái lều đã bay mất, chúng tôi khoác da con bò lên người rồi nghỉ ngơi, vì biết ít ra không còn vụ lở tuyết nào nữa mà sợ hãi. Đêm đó vô cùng băng giá, đến mức nếu không có lớp da của con bò và đống chăn cùng quần áo, thứ chúng tôi may mắn mặc vào từ trước khi tuyết bắt đầu rơi xuống, thì tôi nghĩ chúng tôi hẳn sẽ rất khổ sở. Dù vậy, chúng tôi cũng phải chịu đựng thật chật vật.
“Bác Horace,” Lúc bình minh Leo nói, “Cháu sẽ rời khỏi nơi này. Nếu chúng ta phải chết, cháu thà đi khỏi đây; nhưng cháu không tin chúng ta sẽ chết.”
“Rất tốt,” tôi nói, “chúng ta lên đường thôi. Nếu giờ mà tuyết không đỡ được chúng ta, thì sẽ không còn lúc nào nữa.”
Vì thế chúng tôi buộc chặt đống chăn và da con bò thành hai bó, cắt thêm một ít thịt đã đông lại, rồi bắt đầu đi xuống. Bây giờ dù gò đá cao dưới hai trăm feet, thật may cho chúng tôi là chân móng của nó rất rộng – vì ngược lại, hẳn phải bị cuốn đi dưới sức mạnh kinh hoàng của vụ lở tuyết – nó rộng tới mức đã có cả đống tuyết chồng chất trải dài giữa chúng tôi và mặt đất.
Do cấu tạo nhô ra của nơi này, chúng tôi hoàn toàn không thể xuống đoạn phía trước nơi áp lực khiến tuyết cứng lại như đá, chúng tôi phải mạo hiểm đi bộ trên thứ vật liệu lỏng hơn bên rìa của nó. Sẽ không thu được gì nếu chờ đợi, chúng tôi cứ bước đi, Leo dẫn đầu, từng bước dò tuyết. Thật vui, chúng tôi phát hiện ra sương giá đêm tối đã làm bề mặt cứng lại như muốn hỗ trợ chúng tôi. Đi xuống được khoảng nửa đường, áp lực giảm dần, nó trở nên mềm hơn rất nhiều, chúng tôi buộc phải nằm ngửa mặt lên, để phân phối trọng lượng trên một diện tích rộng hơn, rồi nhẹ nhàng trượt xuống chân gò.
Mọi thứ đều tốt đẹp cho tới khi chúng tôi bước được hai mươi bước dưới chân gò, nơi đó phải vượt qua một gò đất mềm tạo từ bụi phấn vụ lở tuyết tung ra khi đổ xuống vội vã. Leo trượt qua an toàn, nhưng tôi, cách cậu một hai thước về bên phải, đột nhiên rơi vào một vũng đóng lớp vỏ cứng bên dưới. Cú đi loạng choạng luồn lách khờ khạo nhưng rất tự nhiên, như con cá bơn vừa hạ cánh trên cát, thực hiện xong trò láu cá, cùng với một tiếng thét nhức óc nhưng nhanh chóng bị kiềm chế, tôi biến mất.
Bất kỳ ai từng bị chìm sâu trong nước sẽ hiểu cảm giác không hề dễ chịu, còn tôi có thể đảm bảo với họ rằng, trải nghiệm tương tự trong tuyết mềm tuyệt đối tồi tệ hơn; một thân toàn bùn với nỗi kinh sợ. Tôi đi xuống, xuống mãi, tới khi dường như chạm vào một hòn đá đã cứu tôi thoát khỏi cảnh vĩnh viễn biến mất. Giờ tôi cảm thấy tuyết bao chặt quanh người, trở nên tối đen và nghẹt thở. Nhưng đống tuyết tích tụ thật mềm mại, trước khi vượt qua, tôi xoay xở cánh tay để gạt hết bụi phấn khỏi đầu, rồi đào một hố nhỏ để không khí thấm qua từ từ. Bám tay vào hòn đá, tôi cố nhô lên, nhưng không thể, trọng lượng đè lên tôi quá lớn.
Rồi tôi từ bỏ hy vọng và chuẩn bị chết. Quá trình này cho thấy không hoàn toàn khó chịu. Tôi không nhìn thấy những ảo cảnh từ kiếp trước như những người chết đuối bị cho là sẽ trải qua, nhưng đầu óc tôi bay về với Ayesha – điều này cho thấy bà ấy khống chế tôi mạnh đến mức nào. Tôi như thấy bà ấy và một người đàn ông bên cạnh, đứng cùng tôi trong vực đá tối tăm. Bà ấy khoác chiếc áo choàng đi đường dài, đôi mắt yêu kiều điên cuồng sợ hãi. Tôi đứng lên chào bà ấy và báo cáo, nhưng bà ấy gào khóc trong âm thanh nhức nhối – “Chuyện xấu xa gì ở đây thế? Ngươi còn sống; nhưng Leo chúa tể của lòng ta đâu? Nói đi, người kia, hãy nói ngươi đã dấu chúa tể của ta ở đâu – hoặc ngươi phải chết.”
Ảo cảnh cực kỳ chân thật và sống động, tôi nhớ vậy, liên quan tới sự kiện nhất định nào đó kế tiếp, rất đáng chú ý nhưng nó cũng nhanh chóng trôi qua.
Rồi các giác quan rời bỏ tôi.
Tôi lại nhìn thấy ánh sáng. Tôi nghe thấy tiếng Leo. “Bác Horace,” cậu kêu khóc, “bác Horace, nhanh giữ lấy tay cầm của khẩu súng trường.” Một cái gì đó đâm vào bàn tay đang duỗi ra của tôi. Tôi tuyệt vọng nắm lấy nó, rồi bị kéo căng. Vô dụng, tôi không hề nhúc nhích. Rồi nhớ ra, tôi đạp chân, không biết do may mắn hay Thượng Đế đã thương xót, bàn chân tôi đã đứng được trên đỉnh tảng đá tôi đang nằm. Tôi lại cảm thấy được kéo căng, rồi tự đẩy bằng hết sức mình. Tuyết mang tới sự kinh ngạc, tôi bắn ra khỏi cái hố đó như một con cáo thoát khỏi trái đất.
Tôi va phải cái gì đó. Đó là Leo đang kéo khẩu súng, tôi đập vào cậu ấy ngược lại. Rồi chúng tôi lăn xuống sườn dốc, cuối cùng dừng lại trên rìa vách đá. Tôi ngồi dậy, thở hổn hển trong không khí, ôi! Ngọt ngào biết bao. Mắt tôi rơi trên bàn tay, tôi thấy các mạch máu nổi lên, đen như mực và to như cuộn dây. Rõ ràng tôi đã suýt chết.
“Bác ở dưới đó bao lâu?” Tôi hổn hển hỏi Leo đang ngồi bên cạnh lau mồ hôi chảy như suối trên mặt cậu.
“Không biết. Gần hai mươi phút, cháu nghĩ vậy.”
“Hai mươi phút! Cứ như là hai mươi thế kỷ. Làm sao cháu lôi bác ra được? Cháu không thể đứng trên đám bụi trôi nổi đó.”
“Không, cháu nằm trên da con bò ở nơi tuyết cứng hơn và dùng tay đào sâu về phía bác xuyên qua lớp bột, vì cháu biết nơi bác bị chìm và nó không quá xa. Cuối cùng cháu nhìn thấy những đầu ngón tay bác; chúng xanh lét và sau vài giây cháu thấy chúng níu quanh một tảng đá, rồi cháu đẩy đuôi khẩu súng trường về phía chúng. Thật may bác vẫn còn sống để bắt giữ được nó, còn lại thì bác biết rồi. Nếu cả hai chúng ta không cực khỏe, chắc không bao giờ có thể làm được.”
“Cảm ơn cháu, anh bạn nghiên cứu sinh già,” tôi nói chân thành.
“Tại sao bác lại cảm ơn cháu?” Cậu hỏi với nụ cười thoáng qua. “Bác cho rằng cháu muốn tiếp tục cuộc hành trình này một mình à? Đi nào, nếu bác còn thở được, chúng ta phải tiếp tục. Bác đã vừa ngủ trong giường lạnh rồi, giờ muốn tập thể dục à. Nhìn này, khẩu súng trường của cháu đã gãy còn khẩu của bác đã bị mất trong đống tuyết. Đúng, chuyện này sẽ cứu chúng ta  khỏi khó khăn phải mang theo các hộp đạn,” và cậu cười ủ rũ.
Sau đó chúng tôi bắt đầu đi bộ, hướng tới nơi cách chỗ cuối con đường khoảng bốn dặm, vì có lẽ đi thẳng không có tác dụng. Vì thế chúng tôi tới chỗ đó an toàn. Một khối tuyết lớn như nhà thờ từng bị cuốn xuống ngay trước mặt chúng tôi, một tảng đá khổng lồ từng bị lỏng ra rồi rơi khỏi ngọn núi và bỗng xô tới chỗ chúng tôi như một con sư tử đang tấn công, hay những hòn đá bị Polyphemus ném ra từ con tàu của Odysseus, nhảy qua đầu chúng tôi, biến mất cùng tiếng gào thét giận giữ trong vực sâu bên dưới. Nhưng chúng tôi ít chú ý tới những thứ đó: thần kinh của chúng tôi đã bị u mê, không nguy hiểm nào có thể ảnh hưởng được.
Tới cuối con đường, ở đó vẫn còn dấu chân chúng tôi và dấu móng chân của con bò trên tuyết. Cảnh đó làm tôi xúc động, vì thật kỳ lạ khi chúng tôi vẫn còn sống để nhìn lại chúng. Chúng tôi nhìn chằm chằm vào vách đá. Phải, nó sâu hoắm và hoàn toàn không thể trèo qua.
“Đi tới con sông băng”, Leo nói.
Thế là chúng tôi tiếp tục tới đó, bò xuống theo một con đường nhỏ, để thăm dò. Ở đây, theo như phán đoán của chúng tôi, vách đá sâu khoảng bốn trăm feet. Nhưng dải băng có chạm tới chân nó hay không, chúng tôi không thể nói được, vì khoảng hai phần ba con đường đi xuống, nó gập cong vào trong, giống điểm cuối của cây cung đang được uốn cong, cấu tạo thành những tảng đá nhô ra bên bờ kia cũng thế, khiến chúng tôi không thể nhìn ra nó kết thúc chỗ nào. Chúng tôi trèo ngược trở lại và ngồi xuống, tuyệt vọng nắm tay nhau, cay đắng, tuyệt vọng đến tăm tối.
“Chúng ta phải làm gì?” tôi hỏi. “Phía trước chúng ta là cái chết. Đằng sau chúng ta là cái chết, vì làm sao chúng ta có thể quay lại dãy núi này khi không có thức ăn hay súng để săn thứ gì đó? Ở đây cũng chết, vì chúng ta phải ngồi đây và chết đói. Chúng ta đã cố gắng hết sức và thất bại rồi. Leo, giờ phút kết thúc đã trong tầm tay. Chỉ phép màu mới cứu được chúng ta.”
“Phép màu,” cậu đáp. “Phải, cái gì dẫn chúng ta lên đỉnh gò đá khiến chúng ta thoát khỏi vụ lở tuyết? Cái gì đặt hòn đá đó giữa đường khi bác bị chìm trong lòng tuyết, bày mưu và cho cháu sức mạnh để đào bác khỏi nấm mồ tuyết kia? Cái gì đã bảo vệ chúng ta khỏi nguy hiểm suốt mười bảy năm qua như thế, khi rất ít người có thể biết được và sống sót? Có Quyền Năng đang chỉ đạo. Định Mệnh sẽ hoàn thành điều đó cho chúng ta. Tại sao Quyền Năng đó sẽ dừng chỉ dẫn tiếp chứ? Tại sao Định Mệnh cuối cùng lại lùi bước chứ?”
Cậu dừng lại, sau đó càng quyết liệt hơn, “Cháu nói này, bác Horace, ngay cả nếu chúng ta có súng, thức ăn và nhiều con bò, cháu cũng không muốn quay lại, vì làm vậy chỉ chứng minh cháu là kẻ hèn nhát và không xứng với nàng. Cháu sẽ tiếp tục.”
“Làm cách nào?” tôi hỏi.
“Theo con đường này,” cậu chỉ vào dòng sông băng.
“Đó là con đường chết!”
“Được, nếu vậy, bác Horace, có lẽ ở mảnh đất này con người tìm thấy sự sống trong cõi chết, hoặc họ tin vậy. Giờ nếu chúng ta chết, chúng ta sẽ chết trên hành trình của chúng ta, và ở đất nước này nơi chúng ta chết, có lẽ chúng ta sẽ được tái sinh. Ít nhất cháu đã quyết định, còn bác phải lựa chọn.”
“Bác đã lựa chọn từ lâu rồi. Leo, chúng ta cùng nhau bắt đầu hành trình này và chúng ta sẽ cùng nhau kết thúc nó. Có lẽ Ayesha biết và sẽ giúp chúng ta,” tôi cười thật thê lương. “Nếu không – đi thôi, chúng ta đang lãng phí thời gian.”
Sau đó chúng tôi cùng nhau phân tích tình hình, cuối cùng chúng tôi cắt cái chăn da và tấm da dày của con bò thành từng mảnh và thắt nút lại với nhau thành hai sợi dây hữu ích, nhờ đó chúng tôi đi nhanh hơn gấp đôi, để một đầu lỏng lẻo, vì chúng tôi nghĩ nó sẽ giúp chúng tôi lúc đi xuống.
Kế tiếp, chúng tôi buộc những mảnh chăn da khác vào chân và đầu gối để bảo vệ chúng khi bị chà xát với băng và đá, đồng thời đi tất da thật dày với cùng lý do. Xong xuôi, chúng tôi lấy đồ đạc còn lại và đống áo nặng, đặt đá vào đó, rồi ném chúng sang bên kia bờ vực, tin rằng có thể tìm lại chúng, nếu chúng tôi tới được chân vách đá. Giờ việc chuẩn bị đã xong, đến lúc chúng tôi bắt đầu một trong những hành trình tuyệt vọng nhất con người có lý trí từng thực hiện.
Nhưng chúng tôi dừng lại một chút, nhìn nhau thương tiếc, vì chúng tôi không thể nói gì. Chúng tôi chỉ ôm nhau, tôi thừa nhận, tôi nghĩ mình đã khóc một chút. Có lẽ thật buồn và không có hy vọng, những khao khát nhiều năm qua, những chuyến đi liên tục mệt mỏi, và bây giờ - kết thúc. Tôi không thể chịu đựng được khi nghĩ về người đàn ông tuyệt vời kia, người tôi bảo trợ, người bạn thân thương nhất của tôi, bạn đồng hành của đời tôi, đứng trước tôi đẹp đẽ và đầy sức sống, nhưng trong vài phút ngắn ngủi nữa bị biến thành đống thịt run rẩy sứt sẹo. Bản thân tôi không có vấn đề. Tôi đã già, đã đến lúc tôi nên chết. Tôi đã sống ngây ngô, nếu phải ngây ngô để theo đuổi hình bóng yêu kiều ấy, nàng tiên cá Siren của khu hang động, người lôi cuốn chúng tôi tới tận số.
Không, tôi không nghĩ lại tự cho bản thân là thế, mà tôi nghĩ nhiều về Leo, khi tôi nhìn gương mặt kiên quyết và ánh mắt sáng ngời của cậu như tự nỗ lực truyền can đảm cho chính mình, tôi rất tự hào về cậu. Vì thế bằng giọng nghẹn ngào, tôi cầu phước cho cậu và chúc cậu mọi điều tốt đẹp bất chấp tất cả, cầu nguyện tôi có thể làm bạn đồng hành của cậu tới tận phút cuối cùng. Cậu cảm ơn tôi bằng vài lời ngắn gọn và cầu phước đáp lại tôi. Rồi cậu khẽ bảo – “Đi thôi.”
Vì thế lần lượt chúng tôi bắt đầu đi xuống. Thoạt tiên khá dễ dàng, dù chỉ một cú trượt chân cũng có thể ném chúng tôi vào cõi bất diệt. Nhưng chúng tôi đều rất khỏe mạnh và có nhiều kỹ năng, hơn nữa lại quen thuộc với những nơi thế này, nên không bị làm sao hết. Được một phần tư quãng đường, chúng tôi dừng lại, đứng trên một hòn đá lớn ngập trong băng, thận trọng nhìn quanh, chống lưng trước sông băng và nhìn nhau. Một nơi thật sự kinh khủng, rất sâu, chúng tôi cũng không nhìn được nhiều, vì bên dưới, khoảng một trăm hai mươi feet, một khúc cong nhô ra cắt ngang tầm nhìn của chúng tôi khỏi những gì bên dưới.
Cảm thấy thần kinh không thể chịu đựng được việc quan sát kéo dài cái vực sâu chóng mặt đó, chúng tôi lại một lần nữa dán mặt lên băng để trèo xuống. Giờ vấn đề đã khó khăn hơn, vì ít tảng đá hơn và chúng tôi cần phải một hai lần trượt chạm tới chúng, nếu không chúng tôi sẽ không bao giờ dừng lại. Nhưng những sợi dây ném vào trong khe góc các hòn đá hay các gò băng nổi lên đã giúp chúng tôi đi xuống và chúng được kéo theo sau khi chúng tôi tới chỗ đặt chân kế tiếp, cứu chúng tôi khỏi thảm họa.
Cuối cùng, chúng tôi tới chỗ uốn cong, nằm ở quá nửa đường đi xuống vách đá, theo như tôi đánh giá là vậy, cách khoảng hai trăm năm mươi feet so với miệng vách, và khoảng một trăm năm mươi feet nếu tính từ đáy vực tối đen kia. Ở đây không có tảng đá nào, chỉ có vải tảng băng thô kệch chúng tôi đang ngồi nghỉ trên đó.
“Chúng ta phải quan sát,” Leo nói.
Nhưng vấn đề là, làm sao quan sát được. Quả thật, chỉ có một cách, treo mình lên khúc cong và khám phá những gì nằm bên dưới. Chúng tôi đọc được suy nghĩ của nhau mà không cần nói lời nào, và tôi bắt đầu di chuyển.
“Không,” Leo nói, “cháu trẻ và khỏe hơn bác. Đi nào, hãy giúp cháu,” cậu bắt đầu thắt chặt một đầu sợi dây vào cục băng vững chắc nhô lên. “Nào,” cậu ấy bảo, “Hãy giữ lấy mắt cá chân của cháu.”
Thật điên rồ, nhưng không có gì khác để làm, vì thế cố định gót chân mình vào một cái ngách, tôi nắm lấy chúng còn cậu ấy từ từ trượt về phía trước tới khi cơ thể của cậu biến mất trong không trung. Những gì cậu ấy thấy không quan trọng, vì sau đó tôi đã nhìn thấy tất cả, nhưng việc xảy ra lúc đó là đột ngột toàn bộ trọng lượng to lớn của cậu ấy đặt lên cánh tay tôi với một cú giật, mắt cá chân của cậu bị giằng khỏi cái kìm kẹp của tôi.
Ai biết được! Có lẽ do kinh sợ, tôi đã thả lỏng, để tuân theo hối thúc tự nhiên nhắc con người bảo vệ mạng sống của chính mình. Nếu vậy, tôi có thể được tha thứ, nhưng nếu đứng vững, tôi sẽ bị giật vào trong vực. Sau đó sợi dây hiện ra và vẫn còn căng.
“Leo!” Tôi thét lên, “Leo!” rồi nghe thấy một tiếng nói bị bóp nghẹt, tôi nghĩ đó là, “Đến đây.” Nhưng thực ra câu đó phải là – “Đừng đến đây.” Quả thực, nó đã ảnh hưởng tới tôi – tôi không hề dừng lại suy nghĩ, mà hướng mặt ra ngoài, rồi ngồi ngay dậy, bắt đầu trượt xuống lớp băng.
Hai giây sau tôi đã tới khúc cong, ba giây sau tôi vượt qua nó. Phía dưới tôi chỉ có thể mô tả là một cục nước đá khổng lồ bị vỡ thành những đoạn ngắn, rời ra khỏi vách núi khoảng bốn thước trong không gian. Cục nước đá không dài quá mười lăm feet và dốc ra phía ngoài, vì thế tôi đi xuống không sâu. Hơn nữa, ở phần cuối của nó, nước đang nhỏ giọt, hay một vụ tai nạn nào đó như thế, làm tảng băng mòn đi, để lại một cái gờ nhỏ rộng có lẽ bằng một bàn tay người. Bề mặt khúc cong lởm chởm, khiến quần áo tôi mắc vào, tôi cũng tuyệt vọng nắm lấy chúng bằng ngón tay. Sau đó tôi trượt xuống nhẹ nhàng, gót chân hạ xuống một mỏm đá nhỏ, vẫn duy trì gần như thẳng đứng với hai tay giang rộng – giống như người bị đóng đinh trên cây thập giá bằng băng.
Sau đó tôi đã thấy mọi thứ, cảnh tượng làm máu tôi đông lại trong tĩnh mạch. Treo trên sợi dây, khoảng bốn hay năm feet ở đoạn vỡ bên dưới, là Leo, ngoài tầm với, ngoài vách đá; cậu ấy treo lơ lửng chầm chậm quay vòng, quay vòng – vì cảnh ngớ ngẩn tương tự hiện ra trước mắt tôi ngay sau đó theo cách rời rạc, thật đáng sợ - như thể khúc thịt quay trên ngọn lửa. Bên dưới cái vực đen ngòm đang há ra, và dưới đáy của nó, rất xa rất xa bên dưới, hiện ra hàng tảng tuyết trắng mờ nhạt. Đó là những gì tôi nhìn thấy.
Nghĩ đi! Nghĩ đi! Tôi bị đóng đinh trên băng, gót chân nằm trên một mỏm đá nhỏ; ngón tay bám vào những ụ lồi ra, những chỗ mà đến một con chim cũng khó có thể tìm được điểm đặt chân; xung quanh và bên dưới là không gian khiến người ta choáng váng. Tôi không thể trèo xuống, thậm chí co duỗi cũng không thể, vì chỉ cần trượt một cái, tôi nhất định sẽ đi đời.
Còn bên dưới tôi, như con nhện treo trên sợi tơ, Leo đang quay tròn chầm chậm!
Tôi có thể nhìn thấy sợi dây da màu xanh lá đang căng ra dưới trọng lượng của cậu và số nút thắt nhiều gấp đôi trên đó bị tuột khỏi và thắt chặt, tôi nhớ đã băn khoăn cái nào đứt trước, da hay những nút thắt, hay liệu nó có giữ được tới khi cậu ấy rơi từng chi từng chi khỏi cái thòng lọng kia.
Ôi! Tôi đang ở nơi nguy hiểm biết bao, tôi đã từng nhảy từ Hòn Đá Bập Bênh sang một điểm trên Tảng Đá Cựa Gà run rẩy, trật mất mục tiêu, nhưng chưa bao giờ, chưa bao giờ như thế trong hoàn cảnh kiểu này. Đau đớn giữ chặt lấy tôi; mồ hôi lạnh túa ra từ mọi lỗ chân lông. Tôi có thể cảm nhận được nó đang chảy xuống mặt như nước mắt; tóc tôi dựng đứng trên đầu. Bên dưới, tuyệt đối im lặng, Leo quay tròn quay tròn, mỗi vòng quay đôi mắt cậu nhìn lên gặp mắt tôi thật ghê sợ.
Im lặng là tình trạng tồi tệ nhất, im lặng và vô dụng. Nếu cậu kêu khóc, nếu cậu vật lộn, có thể đã tốt hơn. Nhưng tôi biết cậu đang sống sót đằng kia, mọi dây thần kinh và nhận thức đều phải căng lên hết cỡ. Ôi! Lạy Chúa! Ôi! Lạy Chúa!
Các chi của tôi bắt đầu đau nhức, tôi không dám nhúc nhích bất kỳ sợi cơ nào. Chúng đau kinh khủng, hoặc tôi đang nghĩ vậy, dưới sự tra tấn đó, cả tinh thần lẫn thể xác, đầu óc tôi sụp đổ.
Tôi nhớ ra nhiều chuyện: khi còn nhỏ, tôi trèo lên cây và tới chỗ không thể leo lên hay leo xuống được, rồi cam chịu ở đó. Nhớ ra một lần ở Ai Cập, một người bạn liều lĩnh dại dột của tôi đã trèo lên Kim Tự Tháp Thứ Hai một mình, và bị đóng đinh trên đỉnh chói sáng của nó, cậu ấy đã đứng yên nửa giờ trên độ cao bốn trăm feet. Tôi có thể thấy giờ cậu ta đang giang rộng cái chân mang bít tất dài xuống dưới trong nỗ lực vô ích để chạm tới khe nứt kế tiếp, rồi lại phải quay lại, có thể thấy gương mặt bị tra tấn của cậu ấy, một vết trắng trên nền đá granite đỏ.
Rồi gương mặt ấy biến mất và bóng tối vây quanh tôi, những ảo cảnh của bóng tối: sự sống, vụ lở tuyết không thể cưỡng lại được, nấm mồ tuyết tôi đã bị chìm trong đó – ôi! Nhiều năm trước; Ayesha đã đòi sinh mệnh của Leo trong tay tôi. Bóng tối và im lặng, đến mức tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng nứt gẫy trong cơ bắp của chính mình.
Đột nhiên trong bóng tối một tia sáng xuất hiện, trong im lặng một âm thanh vang lên. Tia sáng của con dao Leo vừa rút ra. Cậu ấy đang chặt mạnh vào sợi dây rất quyết liệt, quyết liệt, làm cho mọi chuyện kết thúc. Còn âm thanh chính là tiếng ồn cậu ấy tạo ra, tiếng ồn như ma quỉ, nửa hét lên thách thức, nửa gào rú ghê sợ, tới nhát thứ ba nó rơi mất.
Tôi nhìn nó rơi. Lớp da dày bị cắt qua một nửa, phần bị đứt ra cong lên cong xuống như môi trên và môi dưới của con chó dữ, còn phần chưa bị cắt kéo ra từ từ, từ từ, tới khi vô cùng mỏng. Rồi nó đứt, vì thế sợi dây bay xuống và đập vào mặt tôi như một trận đòn roi.
Một lúc sau, tôi nghe thấy tiếng lốp bốp và ngã uỵch. Leo đã đập xuống mặt đất bên dưới. Leo đã chết, tôi đã hình dung ra cậu ấy trong một đống xương thịt nham nhở. Tôi không thể chịu đựng được điều đó. Dây thần kinh và phẩm chất con người trong tôi quay lại. Tôi không thể chờ đợi tới khi kiệt sức, tôi trượt khỏi vị trí của mình như con chim bị thương rơi khỏi cành cây. Không, tôi muốn đi theo cậu ấy ngay lập tức, bằng hành động của chính mình.
Tôi để hai tay rơi xuống chống đỡ cơ thể, và vui mừng tin tưởng trong đau đớn rằng hành động đó sẽ làm tôi tan nát. Sau đó cân bằng hai gót chân, tôi đứng được dậy, nhìn lần cuối bầu trời, lẩm bẩm lời cầu nguyện cuối cùng. Một lúc sau tôi vẫn duy trì tư thế thăng bằng như vậy.
Hét lên “Bác tới đây,” tôi giơ tay lên đầu và nhảy xuống như một người đi tắm lặn xuống, lặn vào trong vực thẳm tối đen bên dưới.

Tác phẩm gốc: Ayesha - Return of SHE (H.R. Haggard)
           Dịch bởi: Cheryl Pham

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Nữ Hoàng Ayesha trở lại - Chương 4



Chương 4: Tuyết lở

Sau đêm đó, vào sáng ngày thứ hai lúc mặt trời mọc đã thấy chúng tôi trên đường băng qua sa mạc. Đằng kia, gần một dặm phía sau, chúng tôi có thể nhìn thấy tượng Phật đổ nát ngồi trước tu viện cổ, trong không gian sáng rõ đó thậm chí có thể phân biệt được thân hình còng còng của người bạn Kou-en, vị tu viện trưởng già nua, đang dựa vào đó cho tới khi chúng tôi hoàn toàn không thể nhìn thấy gì. Tất cả các nhà sư đều khóc khi chúng tôi chia tay họ, Kou-en còn khóc thảm thiết hơn những người kia, vì ông đã yêu mến chúng tôi.
“Ta rất buồn,” ông nói, “rất buồn, thực ra ta không nên thế, vì cảm xúc thế này có thể tạo ra tội lỗi. Nhưng ta thấy thoải mái, vì ta biết rất rõ rằng dù ta sắp phải rời bỏ kiếp sống này, chúng ta vẫn sẽ gặp lại nhau trong nhiều kiếp số trong tương lai, sau khi các ngươi đã từ bỏ những hành động điên rồ này, và cùng nhau bước vào chính đạo hưởng bình an hòa hảo. Giờ ta sẽ cầu nguyện và ban phước lành cho các ngươi, hãy đi đi, đừng quên các ngươi nên sống sót trở về” – ông lắc đầu nghi ngại – “các ngươi sẽ luôn được chào đón ở đây.”
Và chúng tôi ôm ông ấy rồi buồn bã ra đi.
Nhớ rằng khi ánh sáng bí ẩn chiếu vào chúng tôi trên đỉnh núi, tôi có mang theo la bàn nên có khả năng phỏng đoán được phương vị tương đối. Do thiếu các công cụ định vị tốt hơn, giờ chúng tôi đành đi theo phương hướng của nó, tiến về gần phía đông bắc, vì hướng đó có ánh lửa phát ra. Cả ngày thời tiết tuyệt đẹp, chúng tôi đi bộ qua sa mạc rải rác hoa cỏ, không thấy gì ngoài vài con thú săn mồi và một hai bầy lừa hoang vừa xuống núi tìm cỏ mới mọc. Đến tối chúng tôi bắn được một con linh dương và dựng trại – vì chúng tôi cũng mang theo con bò cùng cái lều – giữa bụi cây thánh liễu, những cành khô của nó được chúng tôi trang bị làm nhiên liệu. Chúng tôi không thiếu nước, nhờ cạo trong cát ngậm tuyết tan chảy, chúng tôi đã có đủ nước dùng được. Vì thế đêm đó chúng tôi ăn tối xa xỉ với trà và thịt linh dương, quả thực chúng tôi rất vui vì điều đó, do lương khô dự trữ của chúng tôi có khá ít.
Sáng hôm sau chúng tôi xác định chắc chắn vị trí của mình, ước đoán đã đi được một phần tư sa mạc, phỏng đoán rất chính xác vì vào tối ngày thứ tư của hành trình, chúng tôi đã tới chân dãy núi đối diện, không hề gặp tai nạn hay bị kiệt sức. Như Leo nói, mọi thứ “đang diễn ra đều đặn như máy”, nhưng tôi phải nhắc nhở cậu rằng khởi đầu tốt thường kết thúc tệ. Tôi đã không sai, vì gian khổ của chúng tôi giờ mới tới. Thoạt tiên, dãy núi cho thấy nó quá cao; chúng tôi mất hai ngày mới trèo lên được sườn núi thấp hơn của nó. Sức nóng của mặt trời cũng làm tuyết mềm đi, khiến mất nhiều sức hơn khi đi bộ trên tuyết, dù chúng tôi đã quen với tình huống thế này suốt những năm tháng dài du ngoạn, nhưng vẻ lộng lẫy của nó vẫn làm mắt chúng tôi bị tác động.
Sáng ngày thứ bảy chúng tôi đã ở đầu hẻm núi dẫn tới tâm dãy núi. Dường như đó là lối đi duy nhất có thể đi, chúng tôi đi theo nó, và rất vui sướng khi khám phá ra ở đó từng có một con đường chạy qua. Chúng tôi cũng không thể nhìn thấy con đường đó, thực ra mọi thứ đều bị chôn vùi trong tuyết. Nhưng chúng tôi chắc chắn nó nằm bên dưới chân mình, vì dù đi bộ dọc theo cạnh vách đá, nhưng lối đi này luôn bằng phẳng dù hơi dốc; hơn nữa đá trên một mặt đều bị đắp thành dốc đứng dưới bàn tay con người. Chắc chắn vậy, vì tuyết không bám ở đó, chúng tôi còn thấy những dấu hiệu có mục đích trên bề mặt bị bóc trần của nó.
Chúng tôi cũng đi qua vài chỗ có hành lang được dựng nhô ra khỏi sườn núi, đi được nhờ những thanh dầm, một hình thức phổ biến ở Tây Tạng. Những thanh dầm này tất nhiên đã bị mục nát từ lâu, tạo thành một hố ngăn cách giữa chúng tôi và phần tiếp theo của lối đi. Khi gặp những chỗ ngăn lại như thế, chúng tôi buộc phải quay lại đi đường vòng quanh hay đi qua ngọn núi nào đó; dù bị chậm lại rất nhiều, chúng tôi vẫn luôn cố gắng bám theo con đường, bất chấp khó khăn và nguy hiểm.
Thứ thử thách chúng tôi hơn cả - vì chỗ này kỹ năng và kinh nghiệm leo núi không thể giúp gì cho chúng tôi – là giá lạnh khi đêm xuống, buộc chúng tôi phải cắm trại trong sương giá khắc nghiệt ở nhiệt độ rất lớn, chịu đựng hàng giờ dài lê thê trong bóng tối, gió lạnh như băng thâm nhập, rì rào không ngừng nghỉ dưới hẻm núi.
Cuối cùng vào ngày thứ mười, chúng tôi cũng đi hết hẻm núi, lúc đó màn đêm đã buông xuống, cắm trại chỗ này là lạnh giá nhất. Đó là những giờ phút khổ sở, vì giờ chúng tôi không còn nhiên liệu để đun nước, phải chống khát bằng cách ăn tuyết đông lạnh, trong khi mắt đau nhức khủng khiếp vì không thể ngủ, dù chúng tôi có chăn và chút ấm áp từ con bò trong lều nhỏ, giá buốt vẫn làm răng chúng tôi đập vào nhau như đọc phách.
Bình minh tới, theo sau nó là mặt trời. Chúng tôi bò ra khỏi lều, đứng một lúc, kéo lê chân tay đã cứng đờ khoảng một trăm thước tới chỗ hẻm núi có ngã rẽ, để có thể vận động dưới ánh mặt trời, vì lúc đó ánh nắng không thể chạm tới chỗ chúng tôi dựng trại.
Leo đi vòng quanh trước tiên, tôi nghe thấy cậu kêu lên một tiếng kinh ngạc. Vài giây sau, tôi tới chỗ cậu ấy, và ôi! Trước mắt chúng tôi là Miền Đất Hứa.
Xa xa bên dưới chúng tôi, ít nhất phải hàng chục nghìn feet – nhớ rằng chúng tôi đang quan sát từ trên đỉnh núi – nó trải dài mãi, dài mãi tới tận chân trời xa xôi. Về đặc điểm, nó khá bằng phẳng, một đồng bằng phù sa có lẽ từ thời nguyên thủy, nằm dưới đáy một trong các hồ lớn ở Trung Á, hầu hết chúng giờ đã trong quá trình khô cạn. Đối tượng duy nhất làm giảm độ bằng phẳng ảm đạm này, một ngọn núi khổng lồ phủ đầy tuyết đơn độc, ở phía xa xa – nó thật sự cách rất xa chúng tôi – chúng tôi có thể thấy rõ ràng đường nét của nó. Thực ra chúng tôi còn có thể thấy nhiều hơn thế, vì từ trên đỉnh tròn của nó bốc lên một cột khói lớn, cho thấy đó là một ngọn núi lửa đang hoạt động, trên miệng núi lửa, có một cột trụ bằng đá khổng lồ, đỉnh của nó có hình vòng dây thòng lọng.
Đúng, nó đang ở kia trước mặt chúng tôi, biểu tượng trong ảo cảnh chúng tôi đã tìm kiếm nhiều năm qua, cảnh đó làm tim chúng tôi đập nhanh hơn và thở dồn dập. Chúng tôi nhận ra ngay rằng, dù không nhìn thấy nó suốt đoạn đường qua dãy núi, vì các đỉnh cao và sườn đá của hẻm núi đã che mất nó, nhưng độ cao của nó thật đáng kể, vượt quá cả đỉnh cao nhất của dãy núi này. Điều đó làm chúng tôi hiểu ra làm sao tia sáng lại có thể đi xuyên qua vòng dây thòng lọng tới đỉnh tuyết cao nhất chúng tôi từng trèo lên bên phía kia sa mạc.
Chúng tôi giờ cũng chắc chắn về nguyên nhân tia sáng, vì khói phía sau vòng dây thòng lọng đã giải thích cho bí ẩn này. Không nghi ngờ gì, ngọn núi lửa thức tỉnh, khói để thế chỗ cho ngọn lửa, phát ra ánh sáng cường độ ghê sợ, ánh sáng đó từng bắn tới chỗ chúng tôi, tập trung và điều khiển bởi vòng dây.
Nhìn những thứ còn lại, chúng tôi cho rằng cách đây khoảng ba mươi dặm có thể là một thị trấn mái nhà toàn màu trắng nằm trên một gò đất, giữa cây cối bên bờ một con sông rộng chảy qua vùng đồng bằng. Rõ ràng đất nước này có dân số đông đảo làm nghề trồng trọt chăn nuôi, vì nhờ cặp kính hiện trường, một trong số vật sở hữu còn lại ít ỏi và hữu dụng của chúng tôi, chúng tôi có thể nhìn thấy màu xanh tươi tốt của cây cối xen lẫn các kênh thủy lợi và những hàng cây đánh dấu đường biên của các cánh đồng.
Đúng, trước mặt chúng tôi là một Miền Đất Hứa mênh mông, Ngọn Núi thần bí mọc lên sừng sững ở đó, tất cả những gì chúng tôi phải làm là xuống núi và bước vào nơi chúng tôi muốn.
Vì thế trong chút phỏng đoán điên rồ về những gì phía trước, dù kinh hãi và đau đớn chúng tôi cũng cho rằng phải chịu đựng vượt qua trước khi đứng dưới bóng Biểu Tượng của Sự Sống.
Chúng tôi quên hết mệt mỏi, trở lại lều, vội vàng nuốt chút thức ăn khô, rửa sạch những tảng tuyết gây ê răng và làm chúng tôi đông lạnh bên trong, nhưng vì đói khát, chúng tôi buộc phải ăn, rồi kéo con bò khốn khổ đứng dậy, chất đồ lên nó, và lên đường.
Từ lúc đó, chúng tôi càng vội vã và cứ như thế mỗi người chúng tôi đều bị suy nghĩ của riêng mình chiếm giữ, nếu tôi nhớ không sai, chúng tôi hiếm khi trao đổi với nhau lời nào. Xuống sườn núi, chúng tôi đi bộ nhanh chóng không do dự, vì con đường giờ đây được đánh dấu bằng các cột trụ bằng đá đặt đối diện nhau đều đặn. Chúng tôi hài lòng quan sát những cột trụ này, chúng nói cho chúng tôi biết mình vẫn ở trên con đường chính dẫn tới Miền Đất Hứa.
Nhưng, không thể không chú ý, một thứ dường như đã vô dụng, ngoại trừ vài bầy cừu hoang và đàn gấu hay cáo núi, chúng tôi không phát hiện có một dấu hiệu nào của loài vật hay con người. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng điều này chắc là do con đường chỉ được dùng trong mùa hè. Hoặc có lẽ cư dân của đất nước này giờ toàn ngồi nhà, không hề thích đi đây đó.
Sườn núi dài hơn chúng tôi nghĩ, quả thực khi bóng tối phủ lên, chúng tôi vẫn chưa tới chân núi. Vì thế chúng tôi buộc phải sống một đêm nữa trong tuyết, dựng lều trú ẩn bên một hòn đá treo. Vì đã đi xuống hàng nghìn feet, thật may mắn nhiệt độ đã nhẹ hơn; thật ra tôi không nghĩ đêm nay sương giá lại quá mười tám hay hai mươi độ. Đây đó, sức nóng của mặt trời đã làm tuyết tan chảy vài chỗ hẻo lánh, vì thế chúng tôi có thể tìm được nước uống, còn con bò có thể lấp đầy cái dạ dày già nua khốn khổ của nó bằng đám rêu núi đã héo tàn, dù sao còn tốt hơn không có gì.
Bình minh lại lên, ném tấm áo đỏ rực lên dãy núi cô độc vô tận, chúng tôi kéo lê đôi chân tê cóng, ăn chút đồ ăn còn lại, rồi lại lên đường. Giờ chúng tôi không thể nhìn thấy đất nước bên dưới nữa, vì nó và cả ngọn núi lửa cao chót vót đều bị che khuất bởi một sườn núi xen vào giữa, sườn này có lẽ bị một con mương hẹp cắt qua, hướng tới chỗ chúng tôi đứng. Thực ra, các cột trụ cũng chỉ cho chúng tôi thấy nơi này có một con đường bị chôn vùi chạy qua. Đến trưa, nó đã rất gần chúng tôi, chúng tôi vội vã sốt sắng bước tới. Nhưng thật may, không cần vội, vì một giờ sau chúng tôi mới biết sự thật.
Giữa chúng tôi và đầu đoạn mương hiện ra kia, đúng hơn đoạn mương bị chìm xuống, một vách núi dựng đứng sâu khoảng ba hay bốn trăm feet, chúng tôi không nghe thấy tiếng nước dưới chân.
Bên phải vách núi có lối đi nhỏ, vì một trong các cột trụ bằng đá đứng bên bờ chênh vênh của nó, một con đường có thể đi xuống nơi như vậy thế nào đây? Chúng tôi kinh ngạc nhìn chằm chằm; rồi một giải pháp khả thi xuất hiện.
“Bác không thấy sao,” Leo nói với nụ cười trống rỗng, “vực này xuất hiện từ khi con đường này được sử dụng: có lẽ do hoạt động của núi lửa.”
“Có lẽ vậy, hoặc có thể có một cây cầu gỗ hay cầu thang đã mục nát. Không vấn đề gì. Chúng ta phải tìm lối đi khác, thế thôi,” tôi trả lời một cách vui vẻ nhất có thể.
“Đúng, làm ngay thôi,” cậu nói, “nếu chúng ta không muốn dừng ở đây mãi mãi.”
Vì vậy chúng tôi rẽ sang phải và đi bộ dọc theo rìa vách đá, được khoảng một dặm, chúng tôi đi tới một sông băng nhỏ, bề mặt rải rác những khối đá lớn đã đông lại. Sông băng này chảy xõa xuống bề mặt vách đá như một thác nước hóa đá, nhưng tới chân vách hay không, chúng tôi không thể thấy được. Dù sao nghĩ về nguồn gốc của nó dường như vượt ra ngoài phạm vi chủ đề. Từ chỗ này, chúng tôi có thể nhìn thấy vực đá tăng dần độ sâu, mắt người cũng không thể thấy sâu bao nhiêu.
Thế nên chúng tôi trở lại tìm kiếm bên trái con đường. Ở đây dãy núi lùi dần, phía trên chúng tôi là một sườn núi tuyết hùng vĩ và dốc đứng nhô lên, còn bên dưới là chính cái vực tàn nhẫn không thể trèo qua được đó. Khi ánh nắng đã bắt đầu nhạt dần, chúng tôi nhận ra khoảng nửa dặm phía trước gò đá có đỉnh trọc bên bờ vách núi, và chạy tới đó, chúng tôi nghĩ từ trên đỉnh đó có thể phát hiện ra đường xuống.
Cuối cùng khi đã vất vả leo tới đỉnh, cao khoảng một trăm năm mươi feet; những gì chúng tôi phát hiện ra là, nơi này, cũng như dưới sông băng, là vịnh sâu không xác định được, sâu hơn cả chỗ cuối con đường, quả thật sâu tới mức chúng tôi không thể thấy đáy, dù từ dưới đó vẫn vang lên tiếng nước gầm rú. Hơn thế, nó chỉ rộng chừng nửa dặm.
Trong khi chúng tôi nhìn quanh, mặt trời chìm dần biến mất sau một ngọn núi, bầu trời trở nên nặng nề, chớp lóe lên như ngọn nến. Giờ đi lên gò đá quả thật quá dốc, đặc biệt chúng tôi buộc phải trèo lên một loại bậc thang bằng đá, chúng tôi hầu như không quan tâm tới việc đi xuống trước đêm tối. Nhớ ra phải lựa chọn giữa đỉnh gò đá này và dải tuyết dưới chân, cái nào có thể tránh được nhiệt độ hay có những thuận lợi khác đây, nhưng giờ chúng tôi hoàn toàn kiệt sức nên quyết định cả đêm sẽ ở trên gò, nhờ đó, chúng tôi mới biết đã cứu mạng chính mình.
Dỡ đồ khỏi con bò, chúng tôi dựng lều dưới mạn khuất gió gần đỉnh gò đá và ăn vài nắm cá khô cùng bánh ngô. Đó là thức ăn cuối cùng chúng tôi mang theo từ Tu viện, và chúng tôi tuyệt vọng nghĩ rằng nếu không bắn được thứ gì đó, lương thực tiếp tế giờ chỉ còn hiện diện ở con bò, người bạn già nua của chúng tôi. Sau đó chúng tôi quấn mình trong tấm chăn dày và áo lông thú, quên đi những khốn khổ và chìm vào giấc ngủ.
Không lâu trước khi trời sáng, chúng tôi bị đánh thức bởi một âm thanh đột ngột kinh hãi như tiếng nổ của khẩu pháo lớn, tiếp theo là hàng nghìn âm thanh khác, có thể so sánh với hàng loạt đạn đang nhả.
“Lạy Chúa! Cái gì vậy?” Tôi nói.
Chúng tôi bò khỏi lều, nhưng không thể thấy gì, trong khi con bò bắt đầu khụy xuống vì sợ hãi. Nhưng nếu không thể nhìn được, chúng tôi lại có thể nghe và cảm nhận được. Tiếng nổ và tiếng nứt vỡ đã dừng lại, sau đó tới tiếng ồn ào nghiền ken két thoảng qua, âm thanh khiến người ta phát ốm vô cùng, tôi nghĩ vậy. Nó đi kèm với làn gió kỳ lạ, ổn định, và không tự nhiên, dường như ép vào chúng tôi như ép nước. Sau đó bình minh ló ra, và chúng tôi đã quan sát được.
Phía trên chúng tôi, sườn núi đang chuyển động xuống dưới trong vụ lở tuyết cực lớn.
Ôi! Đúng là cảnh đó. Từ đỉnh vách đá phía trên, khoảng hai dặm, một thứ sống động, cuộn tròn, lăn, trượt; chồng chất những đợt sóng dài nhảy nhót, đục khoét vách đá thành thung lũng trũng xuống, như đại dương bị bão tố vần vũ, trong khi trên bề mặt treo lơ lửng đám mây bột đầy bụi nước đông lạnh.
Chúng tôi nhìn và bám vào nhau vì kinh sợ, con sóng đầu tiên đập vào gò đất của chúng tôi, khiến khối đá hùng vĩ rung động như con thuyền quay cuồng trong cơn lốc biển, hay một cây dương liễu trong trận gió đột ngột. Nó đập vào và chầm chậm vỡ ra, rồi dưới một chuyển động oai hùng, chảy như nước về phía rìa vách đá phía kia, và rơi xuống vực sâu khôn lường bên dưới trong âm thanh uỳnh uỵch. Đó chỉ là một con sóng nhỏ, kẻ tiên phong, vì sau đó, trong chuyển động chậm rãi, quanh co, toàn bộ đống tuyết lở cuộn chảy.
Nó xô thành thành đợt sóng lớn cuồn cuộn, như lũ lụt. Nó lấp đầy trước cái gò đá chúng tôi đứng, đúng, chỉ năm mươi feet là tới đỉnh gò, tới lúc đó chúng tôi thậm chí đã nghĩ khối đá chúng tôi đang đứng phải bị xé tan thành từng mảnh và bị ném xuống vực sâu bên dưới như một viên sỏi. Tất cả như một đống hỗn độn! Tiếng gào thét do không khí bị nén phát nổ, tiếng va đập uỳnh uỵch điên cuồng không ngớt của dòng thác hàng triệu tấn tuyết như thể chúng đang phi vào không gian và kết thúc hành trình trong vực thẳm.
Đó cũng chưa phải là điều tồi tệ nhất, vì khi hàng lớp tuyết dày bên trên bị bóc mỏng đi, những tảng đá lớn đã bị chôn vùi bên dưới chúng có lẽ từ hàng thế kỷ qua bị tháo lỏng khỏi nơi chúng đứng và bắt đầu giáng xuống gò đá như sấm sét. Thoạt tiên chúng di chuyển chầm chậm, bắn lên lớp tuyết cứng quanh chúng như mũi tàu lao vào bọt biển. Sau khi có đà, chúng nhảy vào không gian như lớp vỏ bật ra khỏi nước, cuối cùng, hát ca và đổ ầm ầm xuống, nhiều hòn băng qua trước mặt và trên đầu chúng tôi rồi biến mất xa xa bên dưới. Thực tế có một số ít hòn đá tấn công ngọn núi nhỏ của chúng tôi bằng lực bắn từ những khẩu súng lớn trên chiến hạm, rồi vỡ ra ở đó hoặc nếu rơi xuống bên sườn của gò đá, thì cũng bị xé tan thành hàng tấn đá và rơi xuống vực thẳm như sao băng với cả đống vệ tinh bao quanh. Quả thực, không có vụ đánh bom oanh tạc nào được con người bày ra và điều khiển có thể đáng sợ bằng một nửa cảnh này, hoặc nếu có gì có tính phá hủy, đều không có sức tàn phá bằng một nửa chỗ này.
Cảnh tượng kinh sợ như giải thoát và không thể cưỡng lại được, có lẽ đột ngột phát triển từ trong tĩnh lặng tuyệt đối. Ở đó trong lòng dãy núi yên tĩnh, bầu trời thanh bình nền nã nhìn xuống, sức mạnh ẩn chứa trong lồng ngực của Tự Nhiên bỗng được giải phóng, kéo theo những cơn lốc xoáy và tất cả âm thanh uy nghi gây kinh sợ, thong thả đổ lên đầu hai con người nhỏ bé chúng tôi.
Vào lúc cao điểm lở tuyết đầu tiên, chúng tôi đã nhảy lui lại phía sau đỉnh núi chắn gió, nằm dài trên mặt đất, bám chặt vào nó, sợ hãi gió sẽ cuốn chúng tôi xuống vực. Một lúc trước đó, cái lều của chúng tôi đã bị cuốn đi như chiếc lá úa trong gió thu, và chúng tôi đều có thể đi theo bất cứ lúc nào.
Đống đá phi ầm ầm phía trên và qua cả người chúng tôi; một hòn rơi đầy trên cái đỉnh nhỏ, vỡ tan thành nhiều mảnh, như đang trốn chạy và hát khúc ca hoang dại. Chúng tôi không được xúc động, nhưng khi quay lại phía sau nhìn con bò, thật kinh khủng, nó đã nằm chết mất đầu. Trong nỗi sợ hãi, chúng tôi vẫn nằm đó, chờ tới lúc kết thúc, lờ mờ tự hỏi liệu chúng tôi có bị chôn vùi trong đống tuyết đang tràn xuống hay bị quét khỏi gò đá, hoặc bị những tảng đá đang bay xuống nghiền nát, hoặc bị cuốn lên và mất tích trong cơn cuồng phong.
Nó kéo dài bao lâu? Chúng tôi không bao giờ biết được. Có lẽ mười phút hoặc hai giờ, vì thời gian đã mất đi vẻ cân xứng trong tình huống thế này. Chỉ khi chúng tôi nhận ra gió đã giảm, thanh âm ồn ã của tuyết lở và đá lăn ầm ầm dừng lại. Rất thận trọng, chúng tôi đứng lên quan sát.
Trước mặt chúng tôi là sườn núi rất dốc, sâu trên hai dặm, rộng khoảng một ngàn thước, từng phủ tuyết lên tới hàng feet, giờ chỉ còn trơ đá. Chồng chất đối diện với gò đá chúng tôi đứng, gần tới đỉnh gò, là một dải tuyết nhô lên, đè xuống đống băng cứng và rải rác những hòn đá nằm đó. Đỉnh gò bị xé tan và vỡ ra, vì thế lộ ra bề mặt sáng bóng và những vết rỗ lấp lánh mica, hay một loại khoáng chất nào đó. Cái vực sâu bên dưới đã được lấp đầy một nửa với đống tuyết lở và các mảnh vỡ. Nhưng phần còn lại, dường như không có gì thay đổi, vì mặt trời đã ngọt ngào tỏa sáng trên đầu và tràng tuyết nghiêm trang phản chiếu những tia nắng từ sườn hàng trăm ngọn đồi. Chúng tôi đã trải qua cảnh đó và vẫn sống sót; đúng, không hề bị thương tích gì.
Nhưng tình thế của chúng tôi mới gay go làm sao! Chúng tôi không dám đi xuống gò đá, chúng tôi không muốn bị chìm trong đống tuyết lỏng lẻo và bị chôn vùi ở đó. Hơn nữa, theo dư chấn của vụ lở tuyết, những hòn đá vẫn thi thoảng lao ầm ầm xuống sườn núi đá, cùng đi với chúng là những mảng tuyết bị bỏ lại phía sau vụ lở lớn, làm thành những vụ lở nhỏ hơn, quả thật thế, mỗi vật đó đều đủ lớn để giết chết cả trăm người. Rõ ràng, chờ tới khi tình huống biến chuyển hoặc thần chết buông tha chúng tôi, nếu không chúng tôi phải chờ đợi trên đỉnh gò đá này.
Và cứ thế chúng tôi ngồi đó, không thức ăn cùng sợ hãi, tự hỏi ông bạn già Kou-en sẽ nói gì nếu thấy chúng tôi bây giờ. Bị cái đói cồn cào làm chủ mọi giác quan, chúng tôi bắt đầu đưa mắt khao khát nhìn cơ thể không đầu của con bò Tây Tạng.
“Lột da nó thôi,” Leo nói, “sẽ có việc gì đó để làm, chúng ta sẽ cần đến da của nó đêm nay.”
Bằng tình cảm, thậm chí cả sự tôn kính, chúng tôi thực hiện điều đó với người đồng hành đã chết giữa cuộc hành trình, vui mừng vì không phải chúng tôi là người gây ra cái chết của nó. Quả thực, sống lâu giữa những dân tộc luôn tin rằng linh hồn con người có thể chuyển hóa, hoặc sinh ra từ cơ thể loài vật, khiến chúng tôi có chút mê tín về vấn đề này. Chúng tôi nghĩ thật khó mà vui được nếu trong kiếp tới, gặp lại người bạn trung thành này dưới hình dạng con người và nghe thấy anh ta cay đắng trách cứ chúng tôi vì đã giết chết anh ta.
Dù đã chết, những lời trách cứ không áp dụng với việc ăn thịt nó, vì chúng tôi chắc nó sẽ hiểu. Vì thế chúng tôi cắt một ít thịt của nó, cán trong tuyết tới khi trông như thể đã được xay thành bột hấp dẫn, cơn đói thúc đẩy chúng tôi nuốt từng miếng lớn. Đó là bữa ăn kinh tởm, chúng tôi cảm thấy như những kẻ ăn thịt người: nhưng chúng tôi có thể làm gì đây?

Tác phẩm gốc: Ayesha - Return of SHE (H.R. Haggard)
           Dịch bởi: Cheryl Pham